Sinh sản & Phối giống

Vì sao bò không động dục?

Bò đã phối giống đậu thai thì không động dục (lên giống) không đậu thai cũng không lên giống, nguyên nhân và biện pháp khắc phục? Con bò nhà tôi sau khi phối giống được vài 3 tháng, cứ khoảng 7-10 ngày, dịch nhờn chảy ra giống như khi động dục, phối giống không đậu thai, điều trị như thế nào?

Phát hiện động dục và thời điểm phối giống trên bò sữa

Việc phát hiện động dục và xác định thời điểm phối thích hợp rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản và hiệu quả chăn nuôi bò sữa, vì khi bò sữa đậu thai, sinh sản thành công thì người chăn nuôi mới khai thác được sữa, nếu người chăn nuôi không phát hiện và sử dụng được thời gian động dục hoặc chậm trễ thì phải chấp nhận trễ 1 chu kỳ tức chậm lại 21 ngày nữa.

Cấy chuyển phôi bò sữa cao sản Tây Nguyên - Một hướng đi đầy triển vọng

Lâm Đồng là địa phương ở Tây Nguyên có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành chăn nuôi bò sữa. Phát triển ngành chăn nuôi này, một trong những vấn đề quyết định là có con giống năng suất và chất lương cao, mà cụ thể ở đây chính là giống bò sữa Holstein Friesian (HF).

PHƯƠNG PHÁP PHỐI GIỐNG BÒ SỮA

Trong chăn nuôi bò nói chung có 2 phương pháp phối giống là: phối giống trực tiếp và phối giống theo phương pháp thụ tinh nhân tạo, nhưng chăn nuôi bò sữa chỉ sử dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo.

Các dấu hiệu của bò sắp đẻ và biện pháp chăm sóc trước và sau khi đẻ?

Thời gian mang thai của bò là 283 ngày nhưng bò có thể đẻ sớm hơn hoặc muộn hơn dự kiến 5 ngày. Các dấu hiệu của bò sắp đẻ là:

Ứng dụng công nghệ sinh học trong chăn nuôi bò

Công nghệ sinh học đang phát triển rất nhanh và ứng dụng của nó trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hơn nửa thế kỉ qua, công nghệ gieo tinh nhân tạo và công nghệ phôi đã tạo ra một bước nhảy vọt về năng suất và chất lượng giống gia súc, đặc biệt là đối với bò sữa.

Ứng dụng kỹ thuật OPU (Ovum Pick up) trong việc sản xuất phôi bò in vitro

Kỹ thuật OPU là kỹ thuật giúp cho chúng ta thu nhận trứng từ những con bò cái sống có chất lượng tốt mà không cần phải sát hại chúng nhằm cung cấp những trứng có chất lượng tốt cho kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).

Kết hợp hai kỹ thuật OPU và IVF, chúng ta có thể sản xuất được hơn 50 con bê từ một con bò cái cho trứng trong 1 năm. Kỹ thuật OPU/IVP có thể được tóm tắt như sau: Thu nhận trứng từ những con bò cái có chất lượng tốt được tuyển chọn bằng phương pháp chọc hút với sự trợ giúp của máy siêu âm. Sau đó đến giai đoạn nuôi trứng trứng trưởng thành, thụ tinh và nuôi phôi cho đến giai đoạn morula hay blastocyst. Ở giai đoạn này những phôi có chất lượng tốt sẽ được chuyển vào trong cơ thể con bò nhận.

Tỉ lệ chết non, chết sơ sinh và bệnh tật ở bò nhân bản vô tính

Trong năm 2008, đánh giá rủi ro đầu tiên về an toàn thực phẩm của động vật nhân bản vô tính SCNT (somatic cell nuclear transfer) và con cháu của nó đã được thực hiện bởi tổ chức FDA (Food and Drug Administration) của Mỹ. Báo cáo này kết luận rằng nguy cơ từ việc tiêu thụ thịt và sữa có nguồn gốc từ động vật SCNT (ví dụ như heo, bò và dê) và con cháu của nó giống như ở vật nuôi thông thường. Các đánh giá rủi ro về sức khỏe động vật và tiêu dùng thực phẩm đã được thực hiện bằng phương pháp hệ thống tới hạn sinh học CBSA (Critical Biological Systems Approach) (Rudenko & Matheson, 2007; FDA, 2008). Với giả thuyết động vật khỏe mạnh sẽ tạo ra các sản phẩm thực phẩm an toàn dựa trên năm mức phát triển trong suốt cuộc đời của những con vật này đã được kiểm tra bởi CBSA.

Những kỹ thuật thuộc thế hệ thứ nhất của công nghệ sinh sản trên bò

Gieo tinh nhân tạo (GTNT) là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đầu tiên, đã được sử dụng hơn 200 năm. Là một công nghệ hiện đại, GTNT với tinh dịch tươi hoặc đông lạnh đã là kỹ thuật thành công nhất và công nghệ sinh sản hiệu quả trong chăn nuôi trong sáu thập kỷ qua. Sử dụng GTNT có một tác động lớn đến các chương trình cải thiện di truyền ở các nước phát triển, góp phần tăng 1,0 đến 1,5% tỷ lệ hàng năm của tiến bộ di truyền ở bò sữa (Lohuis, 1995). Thông qua các tiến bộ di truyền đạt được bằng cách sử dụng GTNT, ước tính rằng khoảng 50% việc tăng hiệu quả sản xuất sữa quan sát thấy ở các nước phát triển trong nửa sau thế kỷ 20, là nhờ phổ biến kỹ thuật GTNT hơn phối giống thông thường, với 50% khác là nhờ tiến bộ đáng kể trong hệ thống sản xuất bao gồm cả sức khỏe đàn gia súc, quản lý tổng hợp, và dinh dưỡng (Gordon, 1994).