Sữa Việt Nam

Cơ hội phát triển cho ngành sữa Việt Nam

Những năm qua, ngành sữa Việt Nam phát triển khá nhanh, nếu như trước những năm 1990 chỉ có 1- 2 nhà sản xuất, phân phối sữa thì hiện nay thị trường sữa Việt Nam tăng lên 72 doanh nghiệp. Bên cạnh đó là sự thâm nhập của các thương hiệu sữa nước ngoài như Abbbott, Babysan, Dumex, Dutch Lady (Frieslandcampina), Meiji, Nestlé. . . Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất và chế biến sữa trong nước với các thương hiệu sữa nhập ngoại làm cho ngành sữa Việt Nam đứng trước những thách thức lớn và cũng là cơ hội để phát triển và chiếm lĩnh thị trường.

Trên 95% số bò sữa nước ta hiện nay được nuôi phân tán trong các nông hộ với quy mô nhỏ lẻ, tính chuyên nghiệp chưa cao. Nguồn thức ăn trong nước cho chăn nuôi bò sữa còn hạn chế, chưa đáp ứng đủ nhu cầu nên phải nhập khẩu 80% (cả thức ăn tinh và thức ăn thô), chi phi khá cao. Một hộ chăn nuôi đàn bò 10 con, nếu tự trồng cỏ cho bò mỗi năm chỉ chi ra hơn 19 triệu đồng cho tiền cỏ, nếu phải mua cỏ, chi phí hơn 48 triệu đồng/năm.

* Thách thức trước mắt

Đại diện Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT) cho  biết: ở Việt Nam phổ biến là cỏ voi. Loại cỏ này không giúp bò sản xuất lượng sữa cao, chỉ có loại cỏ nhập như cỏ Alfalfa, các cây họ đậu mới chứa lượng đạm cao, đáp ứng được lượng chất cần thiết để nuôi bò sữa cao sản. Các loại cỏ Panicum, cỏ hỗn hợp úc, Brach, Mulato, Brachiaria mutica, ngô và cỏ Avena sativa cũng giúp bò tăng năng suất sữa. Tuy nhiên , nếu bò chỉ ăn đủ lượng mà không đủ chất thì sữa cũng không đạt chất lượng. Không chỉ riêng Việt Nam mà cả Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc cũng phải nhập cỏ Alfalfa. Không những thế, thức ăn cho bò không chỉ thức ăn thô mà phải đảm bảo xơ. Vì thế, ngành sữa Việt Nam không chỉ cần nhập giống bò, mà còn phải nhập cả giống cỏ, đầu tư đất cho trồng cỏ.

Theo Phó tổng giám đốc Công ty Nutifood, chiến lược phát triển của công ty nói riêng và ngành sữa Việt Nam nói chung là phát triển thị phần đến vùng sâu vùng xa, phục vụ cho số đông người Việt Nam có thu nhập thấp, trẻ em bị suy dinh dưỡng. Hiện công ty có hơn 100 nhà phân phối ở khắp 63 tỉnh, thành cả nước, trong các siêu thị, hơn 10.000 trường học, bệnh viện... Còn ông Trịnh Quý Phổ, Tổng thư ký Hiệp hội sữa Việt Nam chia sẻ: Lượng sữa tươi sản xuất trong nước mới chỉ thỏa mãn khoảng 22-25% nhu cầu nguyên liệu, chất lượng lại không ổn định khiến các nhà chế biến gặp nhiều khó khăn. Người nông dân thì chưa hiểu biết thấu đáo về vấn đề quản lý chất lượng sữa tươi tại trang trại.

Giám đốc điều hành Công ty Vinamilk nêu ý kiến: quan hệ giữa nhà chế biến sữa và người chăn nuôi còn nhiều bất cập, chưa thực sự gắn kết, thiếu tính bền vững và tin tưởng lẫn nhau nên nhà chế biến chưa mạnh dạn đầu tư cho người chăn nuôi, người chăn nuôi chưa tin vào kết quả đánh giá chất lượng sữa của nhà chế biến. Mặt khác, do yêu cầu tiêu dùng sữa tươi trong xã hội rất lớn, nhu cầu thu mua sữa của nhiều nhà máy tăng cao. Việc cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến tình trạng chất lượng sữa tươi của một số nhà máy không đảm bảo, người tiêu dùng phải sử dụng những sản phẩm kém chất lượng, vô tình gây ảnh hưởng xấu đến lòng tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm sữa trong nước, làm ảnh hưởng đến người chăn nuôi chân chính.

* Cơ hội phát triển

Vụ công nghiệp nhẹ, Bộ Công thương cho biết: Định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến sữa đến năm 2015, cả nước phấn đấu đạt 1,9 tỷ lít quy sữa tươi, ước tính trung bình 21 lít/người/năm, đáp ứng 35% nhu cầu người tiêu dùng. Đến năm 2025 là 3,4 tỷ lít quy sữa tươi, trung bình 34 lít/người/năm. Muốn vậy, ngành sữa Việt Nam cần phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất sạch hơn, xử lý chất thải triệt để, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm. Tiếp tục đầu tư mới, mở rộng các cơ sở sản xuất sẵn có nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và dành một phần xuất khẩu. Tập trung phát triển năng lực sản xuất sữa thanh trùng và tiệt trùng, sữa bột và sữa chua. Phát triển công nghiệp chế biến sữa cần phải gắn chặt với việc phát triển đàn bò sữa trong nước. Bố trí địa điểm xây dựng nhà máy gắn liền với các vùng chăn nuôi bò sữa tập trung.

Sở dĩ có sự chênh lệch lớn về giá giữa sữa bột trong nước và sữa nhập ngoại là do sản phẩm sữa bột sản xuất trong nước chi phí thấp hơn, quảng cáo ít hơn nên giá thành rẻ hơn. Giá sữa nhập ngoại cao một phần cũng vì tâm lý người tiêu dùng Việt Nam, cho rằng  giá đắt mới là hàng chất lượng. Hơn nữa, việc quản lý giá cả thị trường của cơ quan quản lý nhà nước còn lỏng lẻo. Quá trình thực thi luật cạnh tranh đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh chưa thực sự hiệu quả.

Đại diện diện nhà phân phối của Lactalish tại  Việt Nam cho biết, bên cạnh những khó khăn trong thâm nhập thị trường, hầu hết các công ty sữa có thương hiệu mạnh được nhà tiêu dùng lựa chọn như Vinamilk, Dutch Lady, Abbott. . . cũng có những cơ hội tốt để phát triển, đối tượng sử dụng sữa rất nhiều, gồm cả trẻ em và người lớn. Trẻ em cần những loại sữa có thành phần chất dinh dưỡng gần với sữa mẹ, phù hợp với sự hấp thu và chuyển hóa ở trẻ, ít gây tình trạng rối loạn tiêu hóa, giúp trẻ phát triển và tăng trưởng. Với người lớn, các loại sữa phải phù hợp khẩu vị và nhu cầu của cơ thể.

Ngành sữa Việt Nam còn có tiềm năng về nguyên liệu sữa cho sản xuất. Theo thống kê từ Hiệp hội thức ăn gia súc Việt Nam, nhu cầu sữa tươi nguyên liệu tăng dần từ 500 triệu lít (năm 2010) lên 805 triệu lít (năm 2015). Có nhiều tập đoàn, công ty, hãng sản xuất thu mua sữa tươi nguyên liệu, làm cho mức cầu lớn hơn cung. Vì thế nhiều công ty hướng vào phát triển vùng nguyên liệu nhằm tạo thế đứng vững trong quá trình phát triển. Nhìn chung khả năng cạnh tranh của các sản phẩm sữa Việt Nam không cao do phải phụ thuộc chủ yếu vào nguyên liệu và thiết bị nhập khẩu, chất lượng sữa. Tuy nhiên, tùy theo mặt hàng mà tính cạnh tranh khác nhau. Chẳng hạn như sản phẩm sữa đặc có đường, sữa nước và sữa chua được đánh giá là có khả năng cạnh tranh cao do tỷ lệ sữa tươi trong nước sản xuất ngày càng cao (hiện nay đáp ứng 22% nguyên liệu, dự kiến đến năm 2020, nguồn nguyên liệu sữa tươi đáp ứng từ 38- 40% cho sản xuất). Các công ty trong nước có truyền thống và cung cấp sản phẩm trên thị trường nhiều năm nên đã có thương hiệu uy tín với khách hàng, sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú theo thị hiếu của khách hàng, giá cả tương đối phù hợp so với điều kiện của người dân. Đại diện Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT) cho biết thêm, điều đáng mừng là Việt Nam không chỉ nhập sữa nguyên liệu mà vẫn xuất khẩu sữa sang các nước Châu Phi. Đây là cơ hội phát triển cho ngành sữa Việt Nam.

Bên cạnh đó, phát triển chăn nuôi bò sữa theo hướng bảo vệ môi trường cũng là biện pháp giúp phát triển ngành sữa. Mỗi hộ chăn nuôi bò sữa đều có khối lượng chất thải lớn, với những hộ chăn nuôi nhỏ thì làm hầm khí biogas, hộ chăn nuôi lớn xây dựng những ao khí biogas chứa lượng chất thải lớn, có ao lớn 70.000 m3. Lượng chất thải này đủ để tạo khí đốt cho nấu ăn, phát điện, cung cấp nhiên liệu cho các trại chăn nuôi khác. Sau khi xử lý thành biogas, chất thải tiếp tục được xử lý thành phân bón và nước thải làm nước tưới cỏ, giảm chi phí về phân bón cỏ./.

Nguồn: Sản xuất thị trường nông nghiệp & PTNT số 45
Ý kiến của bạn
Tên của bạn * :
E-mail * :
Tiêu đề * :
Nội dung * (Bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu):
 
Mã bảo mật * :   
   
Bài viết khác